Giới thiệu về tôi

Ảnh của tôi
Đồng Hới, Quảng Bình, Vietnam
Toi sinh ra va lon len tren manh dat Dong Hoi than thuong. Dong Hoi tung mot thoi bao lua cua chien tranh. Khuc ruot Mien Trung, chien tranh di qua de lai mot Dong Hoi hoang tan, chi con lai thap chuong do cua nha tho voi nhung ho bom sau hoam, va nhung tan du cua chien tranh. Hang nam, Dong Hoi phai gong minh chong choi voi thien tai bao lu, han han. Thuong biet bao Que Huong oi! The ma Dong Hoi đã vung tay cheo di toi, MOT DONG HOI HOM NAY DAY SUC SONG MANH LIET, "MOT THANH PHO HOA HONG TINH KHIEt". Noi ay la niem vui khi toi ve va noi nho moi luc xa!.

Chủ Nhật, 10 tháng 1, 2016

Bốn mươi năm – Hoàng Sa, nhớ và nghĩ – chuyện của một hạm phó

Published on January 5, 2014   ·   No Comments
clip_image001[4]
Chẳng phải bây giờ mà từ 1974 tôi đã đựơc nghe chuyện Biển Đông một thời sủi bọt khi bạn tôi, Hạm phó của một tàu Hải quân VNCH, thuật lại trận tử chiến Hoàng Sa khi anh trở về từ vùng biển chết.
Ấy vậy mà đã bốn thập niên tính đến 19-1 năm nay. Bạn tôi hiện đang sống ở Úc, người hạm trưởng của anh đang ở San Jose (Mỹ). Cả hai vẫn kín tiếng, chưa một lần phát biểu hay tham gia bất cứ cuộc hội thảo nào liên quan đến trận đánh.
Không phải các anh bàng quan với thời cuộc, cũng chẳng phải thiếu lòng tự hào khi tham dự một trận đánh để đời đã đi vào quân sử, mà hình như hai người đầu đàn của một khu trục hạm năm xưa vẫn mang niềm u uẩn của những con sói biển khi cảm thấy uất ức vì để mất Hoàng Sa cho bá quyền Trung quốc và cảm thương sâu sắc cho người đồng đội, Hạm trưởng Ngụy văn Thà (hộ tống hạm Nhật Tảo HQ10) cùng 123 thủy thủ của lực lượng hải chiến VNCH đã ở lại với biển.
Cách đây mấy năm, anh có sang Mỹ chơi, trùng hợp với những ngày có hiện tượng ‘lưỡi bò’, trong tình bạn bè vừa là người ưa viết lách, tôi có gợi ý anh cho tôi một số chi tiết hoặc cảm nghĩ về cái ngày tháng giêng 19 khi bốn con tàu của Hải quân Việt nam rẽ sóng ra khơi từ bờ biển Đà nẵng theo lệnh của Tư lệnh tối cao Nguyễn Văn Thiệu bằng mọi giá tiến chiếm lại Hoàng Sa, khi bản thân anh vẫn còn là nhân chứng sống của một thiên bi hùng sử mà một thời ngưòi ta chưa đánh giá đúng mức hay lường trước được hậu quả chiến lược về chủ quyền biển đảo di hại đến nhiều thế hệ con cháu sau này.
Như biết được suy nghĩ của tôi, anh vẫn khiêm tốn góp ý là những gì về Hoàng Sa ngày ấy thì sách, báo, chứng cứ lịch sử, cá nhân, tập thể cả trong lẫn ngoài nước đã nói nhiều, nói chung đều trung thực và khả tín. Rồi như sợ tôi mất lòng, anh từ chối khéo khi lấy một tập quán chỉ huy dù không thành văn của hải quân là khi hạm trưởng còn sống mà chưa ‘lên tiếng’ sẽ là một sự bất kính khi hạm phó hoặc những người theo tàu được phép phát ngôn.
Anh nghiêm túc thổ lộ điều anh trăn trở là cần làm nổi bật cho các thế hệ sau tinh thần bất khuất của Ngụy Văn Thà và những người con yêu của biển đã hi sinh trong trận hải chiến tuy thiếu cân bằng về tương quan lực lượng nhưng không hề khiếp nhược về mặt quyết chiến quyết tử khi đối mặt với kẻ thù cướp đảo mà âm mưu xâm lược và ý đồ thôn tính đã có một lịch sử lâu đời từ thuở Bạch Đằng giang.
Thật sự ngôn từ của anh vốn bộc trực như tính cách của người lính, không hẳn bóng bảy như tôi viết lại, nhưng trong câu chuyện trao đổi anh vẫn tỏ ý buồn là cái chết của những người đồng đội của anh chưa được đánh giá và tri ân đúng mức. Tất nhiên huy chương nào cũng có mặt trái, chiến công nào đôi khi cũng có sự thổi phồng, nhưng một trận đánh nếu không thắng thì tất yếu nó vẫn bị đánh giá thấp và những tác nhân xoay quanh cuộc chiến rất dễ bị lãng quên, nếu không muốn nói đôi khi còn bị phẩm bình soi mói.
Cứ theo ý của anh, thì sự kiện Hoàng Sa năm 1974 không thể hiểu như vậy và cũng không thể xếp vào trường hợp này, mà ta phải kể đến bối cảnh của miền Nam thời ấy, một thời điểm cuộc chiến sắp tàn, một hiệp định đình chiến bó tay khi phải đối phó với người anh em nội thù miền bắc, lại hết thời hậu thuẫn của nguời bạn đồng minh bên kia đại dương, lực bất tòng tâm vẫn phải đơn phương chống chỏi với kẻ thù xâm lược khi mà người trong nhà gà cùng một mẹ không đồng tình chia sẻ, trong cách hiểu nào đó lại án binh bất động tỏ tình quốc tế vô sản với người ‘vừa là đồng chí vừa là anh em’.
Qua câu chuyện tôi cũng thấy anh phàn nàn khi cỗ máy tuyên truyền, cùng những người lãnh đạo của chúng tôi, ngày ấy đã không mở một chiến dịch quảng bá sâu rộng ý nghĩa cuộc chiến tranh cướp đảo và ý đồ của bọn Trung Quốc, và sự hi sinh cao cả, kiên cường của những người lính biển, mà phần nào đặt nặng những chiến công trên rừng trên đất, mải lo cho chiến dịch lấn đất dành dân sau hiệp định Paris, nên thiếu ngợi ca những người con yêu đã ở lại với biển, ghi công chiếu lệ với những người sống sót trở về mà nay nhìn lại, dù một chế độ đã bị bức tử thì sự hi sinh của họ vẫn là ‘những người yêu nước, chết vì nước’ không thể nào là ‘ngụy’ như lời ngợi ca của nhà thơ Trần Mạnh Hảo, một người lính bên kia chiến tuyến đã công bằng đánh giá. Bài thơ mang tên, ‘Người anh hùng họ Ngụy’ (lần đầu tôi được đọc trên QC) về sau được phổ biến khá rộng rãi trên báo in, báo mạng khi sự kiện Biển Đông tháng giêng năm đó không còn là chuyện của một thời đất nước phân đôi.
Ngẫm lại, cái gì cũng có luật bù trừ, thời gian sẽ là nhân chứng đứng về phía chính nghĩa. Giờ đây từ Bắc chí Nam, từ trong nước ra hải ngoại, đều biết đến tên tuổi Ngụy Văn Thà, người anh hùng đã phát lệnh xung kích, bắn phát hỏa đạn đầu tiên, sau lần cảnh cáo tàu địch không chịu rút khỏi lãnh hải chủ nhà; hết đạn, bị thương nặng, không chịu tải thương, ở lại tàu cùng chết với đồng đội, chết theo tàu khi trúng hỏa tiễn của địch, vĩnh viễn ở lại với biển.
Nay nhìn lại Hoàng Sa từ một thời điểm 40 năm sau phát súng lệnh đầu tiên của con tàu Nhật Tảo, tác giả có ít dòng hoài niệm vinh danh những anh hùng của trận đánh Hoàng Sa, và tin rằng lịch sử sẽ đánh giá công bằng về họ như những người con yêu đã ‘ngã xuống vì Hoàng Sa thiêng liêng’ (cụm từ nhà báo Huy Đức đã dùng trên facebook khi kêu gọi tiếp tay hoàn chỉnh danh sách 74 tử sĩ mà cơ bản ông mới sưu tra được).
Nhân đây cũng có lời trân trọng việc làm khách quan mang tính nghiệp vụ cao khi được xem một tư liệu về cuộc hải chiến Hoàng Sa do Đài truyền hình tỉnh Đồng Nai công chiếu nhân dịp 39 năm sự kiện Hoàng Sa. Tư liệu này thực hiện bởi phía VNCH như một ‘nhân chứng vật thể’ mà trớ trêu thay giờ này người viết mới có dịp được xem và lượng giá.
ĐỖ XUÂN TỀ/THEO QUÊ CHOA
'Chiến tranh!'
 

 
 
Bài trên trang nhất của Nhân Dân điện tử sáng 10/12/2007
Các nhà lãnh đạo Việt Nam không muốn có quan hệ quá căng thẳng với Trung Quốc
Đêm qua, có ít nhất hai tờ báo, trong đó có tờ Tuổi Trẻ, phải lột những bài viết về vụ Trung Quốc hợp thức hóa việc thôn tính Hoàng Sa. Sáng, có nhà báo trẻ ví sự kiện này với vụ bé Bảo Trân bị cô giáo lấy băng keo dán miệng.
Khóc. Vẫn biết là người Trung Quốc sẽ “chơi” như vậy mà không kìm được nhục. Mấy tháng trước, Đại sứ cũng đã bị dựng dậy lúc nửa đêm để nghe Bộ Ngoại giao họ “mắng” khi báo chí ta, nói với nhân dân ta, rằng ở Mỹ, ở Châu Âu, người ta phát hiện ra những chất có hại cho sức khỏe trong thực phẩm và đồ chơi Trung Quốc.
Trong entry “Có Lẽ Cụ Chủ Tịch Không Biết” tôi đã phân tích tính “lợi bất cập hại” khi “nhà nước hóa tiếng nói của nhân dân”. Họ biết là hàng tuần chúng ta có giao ban, có định hướng, có xử lý báo chí.
Mấy ngày nay tôi có trao đổi email với một người bạn Trung Quốc, một nữ nhà báo. Cô ấy học với tôi ở Maryland. Hồi đó, biết tôi đã từng là một sỹ quan quân đội, cô ấy hỏi: “San, anh đã từng giết thằng Mỹ nào chưa?” Tôi nói, không phải đùa: “Sorry Jin, khi tôi đi lính, không còn Mỹ, chỉ còn Trung Quốc”.
Chiến tranh biên giới 1979: Những hình ảnh còn mãi với thời gian - Ảnh 7
Chiến tranh biên giới
Tôi xung phong vào bộ đội sau ngày 17-2- 1979, khi “Tiếng súng đã vang trên bầu trời Biên giới”.
Năm ấy tôi 17 tuổi và đang học lớp 10. Tôi nhớ như in máu đã chảy trong tôi như thế nào và ngay giờ đây máu vẫn chảy như thế mỗi khi nghe “Tiếng súng …”. Tôi biết, tôi sẽ trở lại quân ngũ nếu chiến tranh lại xảy ra như 29 năm trước. Tôi cũng không thể ngăn cản con trai tôi, nếu khi cháu lớn, người Trung Quốc lại xâm chiếm đất nước tôi.
Nhưng, tôi đã biết Chiến Tranh sau những năm tháng ở Biên giới phía Bắc, những năm tháng ở Campuchia.
Ông Nguyễn Trung, nguyên đại sứ Việt Nam tại Thái Lan kể, có một nhà lãnh đạo ta khi tiếp kiến Thủ tướng Thái nói rằng: “Chúng tôi tự hào vì đã đánh thắng ba đế quốc to”.
Ông Thủ tướng điềm đạm nói: “Chúng tôi thì lại tự hào vì không phải đánh nhau với đế quốc to nào cả”. Chắc nhiều bạn nghiên cứu lịch sử Thái cận đại và hiện đại sẽ thấy họ đã khôn ngoan như thế nào để tránh chiến tranh trong những tình huống tưởng như không thể nào tránh được. “Suy cho cùng trong mỗi cuộc chiến tranh, bên nào thắng thì nhân dân cũng bại”, thơ Nguyễn Duy.
Hình ảnh Hình ảnh quân dân Việt Nam trong chiến tranh biên giới Việt- Trung số 8
''Tử chiến Hoàng Sa''
Tôi vừa đọc xong cuốn sách mới nhất của Đề đốc Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa Hồ Văn Kỳ Thoại.
 Cuộc chiến tranh Tây Nam sau đó do chế độ Pol Pot, với sự cố vấn của người Trung Quốc tiến hành, đã làm cho mối quan hệ Việt –Trung trở nên nghiêm trọng.
 
Ông Thoại là cháu nội của nhà văn Hồ Biểu Chánh, là vị tướng đã ra lệnh nổ súng trong cuộc “tử chiến” Hoàng Sa hồi năm 1974. “Lịch sử sẽ đánh giá quyết định đó”.
Năm 2005, khi ở Mỹ, tôi đã giúp một quan chức cao cấp của Bộ Ngoại giao lập danh sách những liệt sỹ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa hy sinh trong trận chiến này.
Tôi không biết Bộ Ngoại giao đã làm gì với danh sách mà tôi đã từng cung cấp, nhưng ngay từ khi ấy, tôi đã đề nghị quan chức này, hãy thuyết phục để Nhà nước khắc bia lưu danh những người anh hùng đó.
Theo những gì mà những người lính Hải quân Sài Gòn kể thì khi đó họ đã phải chiến đấu hết sức đơn độc. Trung Quốc đã lựa chọn một thời điểm mà người Mỹ không thể can thiệp, cho dù Hạm Đội 7 vẫn ở ngoài Biển Đông.

Nuối tiếc
Tôi không bao giờ xét lại quyết định của mình năm tôi 17 tuổi. Năm đó, tại Sài Gòn này, có những người lính đang bị hắt hủi, đang bị coi là “Ngụy” vẫn sẵn sàng, nếu được chính quyền chấp nhận, sẽ tòng quân. Nhưng những gì dẫn đến “cuộc chiến tranh 17-2” thì, cho tới ngày nay, tôi vẫn tiếc.
 Người Mỹ đã để cho Đặng “dạy cho Việt Nam một bài học” và thật đắng cay, khi chiến tranh Biên giới nổ ra, “đồng minh duy nhất” của chúng ta là Liên Xô đã “án binh bất động”. 
 
Sau khi Jimmy Carter trở thành Tổng thống, người Mỹ đã định “bình thường hóa” quan hệ với Việt Nam.
Năm 1977, Việt Nam khó có thể lấy được chiếc ghế ở Liên Hợp Quốc nếu như không có sự ủng hộ của người Mỹ. Khi ấy, ASEAN cũng đã chìa bàn tay ra nhưng chúng ta đã thật kiêu ngạo để không nắm lấy.
Nếu khi đó, chúng ta đã là thành viên ASEAN, đã có quan hệ ngoại giao với Mỹ, chắc chắn, chúng ta sẽ xử lý xung đột ở Campuchia theo cách khác và người Trung Quốc không thể nào dám để cho cuộc chiến Biên giới xảy ra.
Cũng có những sự lật lọng cay đắng khiến cho các nhà lãnh đạo lúc đó không thể không “cảnh giác cao độ” với Bắc Kinh. Ngay trong ngày 1-5-1975, Khmer Đỏ, kẻ mà 14 ngày trước đó, nếu không có sự giúp đỡ của Việt Nam sẽ không thể nào nắm quyền ở Phnompenh, đã giết những người dân Việt Nam sống ở vùng Tây Nam Biên giới.
Cuộc chiến tranh Tây Nam sau đó do chế độ Pol Pot, với sự cố vấn của người Trung Quốc tiến hành, đã làm cho mối quan hệ Việt –Trung trở nên nghiêm trọng.
Cùng lúc ấy, bên trong, chính sách “cải tạo tư sản” đã đưa hàng trăm nghìn người Hoa ra khỏi thành phố. Tiếp đó là “nạn kiều”. Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt kể, năm 1978 ông ra Quảng Ninh và thấy nhiều vùng ở đây vắng ngắt. Hàng vạn người Hoa đã sinh sống nhiều đời ở Việt Nam, chỉ biết tiếng Việt Nam, đã phải ngơ ngác, ngậm ngùi “trở về” Trung Quốc.
Năm 1977, người Mỹ chủ động đàm phán với Việt Nam nhưng chỉ vì khoản “bồi thường chiến tranh” mà chính quyền đã bỏ lỡ mất cơ hội. Sang năm 1978, Trung Quốc phát tín hiệu rồi “hù” Mỹ: “Việt Nam là Cuba ở phương Đông”. Người Mỹ bỏ cuộc ở Việt Nam, bắt tay với người Trung Quốc.
''Dạy cho bài học''
Đúng lúc ấy, 3-11-1978, Việt Nam lựa chọn đường lối ngoại giao “nhất biên đảo”, ký Hiệp định, dựa hẳn vào Liên Xô. Ngày 7-1-1979, Việt Nam đưa quân vào Campuchia. Cuộc chiến tranh mà giờ đây Thế giới biết là đã cứu được biết bao người dân Campuchia, khi đó bị coi là “xâm lược”.
Ngày 28-1-1979, Đặng Tiểu Bình đến Washington gặp Jimmy Carter, thuyết phục Carter nhìn nhận sự “bất an” của Thế giới khi Việt Nam bắt tay với Liên Xô. Trong chuyến đi đó, người Mỹ đã đọc được thông điệp về một cuộc chiến mà Đặng sẽ gây ra cho người Việt.
Người Mỹ đã để cho Đặng “dạy cho Việt Nam một bài học” và thật đắng cay, khi chiến tranh Biên giới nổ ra, “đồng minh duy nhất” của chúng ta là Liên Xô đã “án binh bất động”, cho dù, ở Biên giới Trung Quốc khi ấy, Liên Xô có tới 54 sư đoàn.
Cay đắng
Tôi sẽ viết về cuộc chiến tranh này trong một entry khác. Nhưng tôi muốn nói với các bạn rằng, số phận đã bắt tôi phải chứng kiến thêm một điều cay đắng nữa.
Năm 1984, khi đã tốt nghiệp sỹ quan và một chương trình đào tạo chuyên gia quân sự, tôi được điều tới Campuchia.
Nơi mà hàng chục nghìn đồng đội tôi đã chết. Nơi mà bạn tôi, đại úy Long, chỉ trong một năm phải đánh tới 68 trận, và trong những ngày anh mất tích, mẹ anh phải chạy đôn chạy đáo dò hỏi tin con thì được trả lời rằng, ngày ấy, tháng ấy, trên chiến trường ấy, có 3 đại úy tên Long chết!
Thế rồi năm 1991, khi đã là nhà báo, tôi được cử trở lại Phnompenh để đưa tin về cuộc trở về của Quốc vương Sihanouk. Khi còn là một chuyên gia quân sự, tôi biết, ông Hun Sen đã nhiều lần nói với đại sứ Việt Nam Ngô Điền: “Đây là người thầy vĩ đại của tôi”. Trong những ngày của tháng 11 năm 1991, tôi chứng kiến ông Ngô Điền gần như đã bị Hun Sen “trục xuất” khỏi Phnompenh, trước khi Hun Sen lên đường sang Bắc Kinh ruớc Sihanouk.
Sau bao nhiêu năm làm đại sứ, làm người thầy dạy từng chút cho Hun Sen, ông Ngô Điền phải “về” không có một quan chức Campuchia nào đưa tiễn. Nhân viên sứ quán và những người Khmer Krom nấu ăn cho sứ quán, sáng hôm ấy, đã phải vận sà rông ra đưa tiễn ông để tôi chụp mấy tấm hình.
Không nên trách Hun Sen, ông ấy phải vì quyền lợi của người dân ông ấy. Chỉ thấy xót xa, khi chúng ta thì đổ máu còn người Trung Quốc thì luôn có mặt đúng lúc. Họ đã hậu thuẫn cho chế độ Pol Pot, rồi hôm ấy, cả Hun Sen và Sihanouk, nạn nhân của Pol Pot, lại từ nhà họ trở về giữa tiếng reo hò của “nhân dân”.
Cũng năm đó, Liên Xô sụp đổ, Trung Quốc thì vẫn được coi là kẻ thù. Chúng ta lần đầu tiên có được độc lập thực sự khi không nằm ở trong một “phe” nào cả. Tại thời điểm ấy, nếu lựa chọn thứ tự ưu tiên đúng, “bình thường hóa” quan hệ với Mỹ trước, “tư thế” trong đàm phán giữa chúng ta và Trung Quốc sẽ khác.
Cho dù có bị đô hộ hàng nghìn năm rồi thì chúng ta vẫn phải “quét sạch bóng quân xâm lược”.
Nhưng, tránh khỏi phải bị xâm lăng vẫn là điều tốt nhất. Lịch sử ông cha ta đã làm điều đó. Nhưng cũng phải thấy, ông cha ta ngày xưa đối xử với người Trung Quốc không khó như bây giờ. Tôi vừa đọc một cuốn sách do nhà xuất bản của Đại học Tứ Xuyên xuất bản. Họ chửi rất thậm tệ chúng ta.
Báo chí họ, trừ tờ Nhân Dân, vẫn chửi Việt Nam ngay cả khi các nhà lãnh đạo Việt Nam đang ở “thăm Trung Quốc”. Nhưng khi dân ta, báo chí ta lên tiếng họ lại nhắc nhở dựa trên “tình anh em, đồng chí”. Im!
 

Hang Sơn Đòng trên báo Anh


http://hcm.megafun.vn/tin-anh/201509/choang-ngop-truoc-ve-dep-cua-hang-dong-moi-phat-hien-o-viet-nam-501590/?p=9

Thứ Năm, 19 tháng 12, 2013

Người tưởng niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp đầu tiên!

(PetroTimes) – Người đó chính là nghệ sĩ saxophone Quyền Văn Minh. Ngay khi biết được thông tin chính xác Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ trần, nghệ sĩ saxophone Quyền Văn Minh – người được mệnh danh là “Huyền thoại nhạc Jazz Việt Nam” đã xin dừng chương trình biểu diễn nhạc Jazz tại sân khấu Nhà hát Lớn để cùng cả khán phòng dành thời gian tưởng niệm Đại tướng. 
Trò chuyện cùng PV PetroTimes, nghệ sĩ Quyền Văn Minh còn thể hiện mong ước viết được khúc tưởng niệm dâng tặng người "Anh cả" của Quân đội nhân dân Việt Nam.
- Thưa ông, được biết ngay khi nghe tin Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ trần, ngay tại sân khấu Nhà hát Lớn, ông đã xin dừng chương trình để tưởng niệm Đại tướng?
- Tối 4/10, tại Nhà hát Lớn Hà Nội có diễn ra chương trình Jazz Suite night do con trai tôi là Quyền Thiện Đắc biểu diễn, tôi là người dẫn dắt chương trình. Trong khi chương trình đang diễn ra, nghe hung tin từ một người bạn thân làm báo Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ trần, tôi rất sững sờ và muốn làm một điều gì đó ngay lúc ấy. Khoảng 9h tối, sau khi diễn xong chương 1 bản “Cha và con”, tôi lên sân khấu, lúc đó tôi rất xúc động, thông báo tin dữ tới khán giả và xin mọi người dành một phút tưởng niệm vị Đại tướng của dân tộc.
Nghệ sĩ Quyền Văn Minh
- Có thể nói ông là người đầu tiên tưởng niệm Đại tướng trên một sân khấu lớn và trang nghiêm như thế?
- Hôm đó khi tôi vừa nhận thông tin từ một người bạn thân, tôi muốn làm ngay một điều gì đó thể hiện tình cảm và niềm tiếc thương vô hạn tới Người. Tôi muốn mọi người có mặt tại sân khấu Nhà hát Lớn cùng chia sẻ nỗi niềm đó - nỗi đau thương của cả dân tộc.
- Lúc đó, ông và nghệ sĩ Quyền Thiện Đắc có chơi một bản nhạc để tưởng nhớ Đại tướng Võ Nguyên Giáp không?
- Thực ra lúc đó chúng tôi rất muốn chơi một khúc nhạc tưởng niệm là bài "Hồn tử sĩ". Thế nhưng tôi cho rằng không gian yên lặng sẽ thể hiện sự trang nghiêm, tôn kính Người nên tôi đã xin những phút giây tĩnh lặng để tưởng niệm Đại tướng với tất cả tình cảm, sự ngưỡng mộ. Dù Đại tướng không phải người thân, nhưng sự ra đi của Người khiến tôi cảm thấy như đang trải qua sự mất mát to lớn, như mất đi một người thân yêu nhất; xem hình ảnh về Người tôi không cầm nổi nước mắt. Thật sự chưa khi nào tôi khóc nhiều như thế!
- Với tình cảm ngưỡng mộ, trân trọng như vậy với Đại tướng, ông có trăn trở việc tổ chức một đêm nhạc tưởng niệm Đại tướng?
Đó là điều tôi rất mong muốn làm được trong thời gian tới, mặc dù tôi không phải nhạc sĩ sáng tác nhưng tôi muốn có thể tự mình sáng tác một khúc tưởng niệm dâng tặng lên Người. Khúc tưởng niệm có thể gồm 2 hoặc 3 chương, với nền nhạc trầm buồn nhưng phải thể hiện sự trân trọng, hoành tráng. Đoạn kết phải rực rỡ, tựa như nỗi tiếc thương của người dân trên mọi miền đất nước trước sự ra đi của Người, như vầng hào quang rất lớn của Đại tướng. Đây là ý tưởng đang được nung nấu của tôi, ngay sau khi biết tin Đại tướng mất. Đó cũng là ước ao có thể viết một khúc tưởng niệm để đời.
Tôi sẽ về Quảng Bình, đứng trước mộ của Người để có những suy nghĩ lắng đọng nhất, có thể tìm được những nốt nhạc khởi đầu trong khúc tưởng niệm đó.
Nghệ sĩ Quyền Văn Minh ước mong sẽ viết được khúc tưởng niệm dâng tặng Đại tướng Võ Nguyên Giáp
- Chắc hẳn đêm nhạc tưởng niệm sẽ sớm được tổ chức, thưa ông?
- Khúc tưởng niệm đó có thể được trình diễn trong lễ tưởng niệm 1 năm, 5 năm. Tôi hy vọng sẽ sớm ra đời. Nhưng ý tưởng này, có lẽ sẽ được tôi nung nấu đến cuối đời, bởi một tác phẩm viết về một con người vĩ đại thì không thể khẳng định viết ngay, viết luôn được. Hiện tại tôi rất sôi sục mong ước viết được khúc tưởng niệm đó. Tôi cũng mong trong thời gian tới sẽ có thêm nhiều các tác phẩm viết về Người để đêm nhạc tưởng niệm sẽ thật hoành tráng.
- Với tình cảm lớn lao đó, chắc hẳn ông từng có kỷ niệm nào đó với Đại tướng?
- Phải nói là tôi rất tiếc khi chưa được gặp mặt Đại tướng một lần trong đời, dù tôi từng được Đại tá Nguyễn Văn Huyên – thư ký của Người dẫn tới căn nhà 30 Hoàng Diệu một vài lần, nhưng không được gặp mặt Người. Đó là do khi đó Đại tướng đang được chăm sóc ở Bệnh viện 108.
Cảm ơn ông và chúc ông sớm hoàn thành ý tưởng viết khúc tưởng niệm dâng tặng Đại tướng Võ Nguyên Giáp!
Năm 1988, nghệ sĩ Quyền Văn Minh làm chương trình "Quyền Văn Minh với ba dòng nhạc: Cổ điển, dân gian, Jazz". Đây là chương trình dậy sóng trong làng âm nhạc thời đó, vì một lẽ, ông là người đầu tiên thổi cổ điển bằng kèn saxophone và cũng là người đầu tiên đưa nhạc Jazz đến với công chúng.
Sau lần đó, ông được mời giảng dạy tại Nhạc viện Hà Nội mà hiện nay là Học viện Âm nhạc Quốc gia, với mong muốn, khát khao xây dựng một thế hệ chơi nhạc Jazz và có thể đặt nền móng cho việc xây dựng lâu dài nhạc Jazz tại Việt Nam. Cho đến thời điểm hiện tại, nghệ sĩ saxophone Quyền Văn Minh vẫn miệt mài đến lớp dạy cho các lớp học sinh.
Năm 2001, ông đã được Đại sứ liên minh châu Âu ca ngợi là "Huyền thoại sống của nhạc Jazz Việt Nam".
Thanh Huyền (thực hiện)

Tượng đài vĩnh cửu trong lòng Dân

Lễ quốc tang theo nghi thức đặc biệt tiễn đưa Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kết thúc. Là một người dân, tôi thấy rất cảm kích với những gì diễn ra sau thời điểm Đại tướng từ trần, từ việc chọn nghi thức quốc tang đặc biệt đến cách thức tổ chức lễ viếng, lễ tang, lễ an táng Đại tướng.
...Từ khi nghe tin Đại tướng từ trần, dù biết sinh, tử là lẽ đương nhiên của cuộc đời và sự ra đi của một người đã sống đến “trăm năm có lẻ” là điều được coi như diễm phúc, nhưng tôi vẫn thấy bàng hoàng, tưởng như đó không phải là sự thật. Cái cảm giác này tuy không thấy hẫng hụt như bốn mươi tư năm trước khi Bác Hồ đột ngột từ trần, nhưng vẫn thấy là mất mát, tổn thất quá lớn.
Có lẽ những gì mà đông đảo nhân dân dành cho Đại tướng một cách tự nhiên trong những ngày qua cũng là lời nhắc nhủ mọi người phải sống sao, cống hiến ra sao để có được vị trí thực sự trong lòng Dân…
Tôi đã tìm đọc, tìm xem những gì được viết, được đăng về Đại tướng; dù không phải là người mau nước mắt nhưng đã bao lần ngồi một mình trước những dòng tin, những tấm ảnh, những đoạn video, những lời đánh giá… tôi thấy lòng mình cứ nghẹn lại, con tim cứ nhói lên, nước mắt cứ tự rơi, không sao kìm được.
Không xúc động sao được khi thấy lớp lớp người dân đủ mọi lứa tuổi, đủ mọi thành phần từ mọi miền đất nước đổ về các điểm viếng, nhẫn nại chờ đợi chỉ với mong muốn được thắp một nén hương tiễn biệt Đại tướng hay để được nhìn linh cữu ông lần cuối trước khi vĩnh biệt; và những giọt, những dòng nước mắt ứa ra từ tận con tim, tận đáy lòng.
Lòng tôi thắt lại, tim nhói đau, nước mắt tuôn ròng khi thấy những trẻ thơ khóc òa lên cùng mẹ và cả những cụ già bảy mươi, ngoài tám mươi cũng cứ khóc rưng rức chẳng khác nào con trẻ. Thế giới này có mấy ai ngự trị được trong lòng Dân đến thế?
Và, không xúc động sao được khi đọc những bài viết về Đại tướng không chỉ từ người Việt Nam mà còn từ nhiều, rất nhiều người có học thức trên thế giới.
Xúc động lắm, tự hào lắm khi có được một người mà mình coi là thần tượng…Tình cảm đó của tôi có lẽ cũng là của số đông người dân đất Việt. Trong đời mình và trong lịch sử Việt Nam hiện đại, đây là lần thứ hai tôi được chứng kiến một lễ tang mà dường như mỗi người dân đều coi đó là sự mất mát của chính mình.
Có lẽ những gì mà đông đảo nhân dân dành cho Đại tướng một cách tự nhiên trong những ngày qua cũng là lời nhắc nhủ mọi người phải sống sao, cống hiến ra sao để có được vị trí thực sự trong lòng Dân…
Lễ tang đã kết thúc, bao nhiêu lời ca ngợi và tiếc thương dành cho Đại tướng vẫn tiếp tục được viết ra, nói ra, nhưng những từ ngữ cũng chưa nói hết đạo đức, tài năng, công lao của Đại tướng. Chắc rằng chúng ta sẽ còn được tiếp nhận thêm nhiều, nhiều nữa những nghiên cứu, đánh giá mới mẻ và chân thực để hiểu thêm về Đại tướng. Để mỗi chúng ta, nhớ Đại tướng mà lòng mình trong sáng hơn, sống đẹp, sống tốt hơn…
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Con người Nhân-Trí-Dũng vĩ đại, người đã trở thành huyền thoại ngay khi còn sống - đã không còn trên cõi đời này, nhưng Ông đã trở thành tượng đài Vĩnh cửu trong lòng Nhân Dân!
Theo Báo Nhân dân

Khi một huyền thoại khuất bóng...

Cảm xúc hẫng hụt những ngày này không phải chỉ vì sự khuất bóng một huyền thoại, mà còn là sự thiếu vắng của những giá trị tinh thần, văn hóa cao đẹp, đem lại niềm kiêu hãnh vốn có của người Việt, để nước Việt tiếp tục vượt qua và chiến thắng trong cuộc chiến chống "nội xâm", như đã từng chiến thắng các loại giặc ngoại xâm?
Những ngày này, cả nước Việt đang sống trong nỗi đau thương tràn ngập - Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị tướng tài năng, nhân vật lịch sử vĩ đại, người cuối cùng của thế hệ làm nên Cách mạng tháng Tám, xây dựng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ đã ra đi...
Đời người chỉ sống có một lần.
Toàn bộ cuộc đời ông, từ lúc là một thanh niên trí thức yêu nước, sinh trưởng trong một gia đình nhà nho nghèo ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, một sinh viên Luật, một nhà giáo dạy Sử, một nhà báo, rồi trở thành Tổng Tư lệnh tối cao của quân đội vào năm mới 37 tuổi, cho đến khi giã biệt cuộc đời với cương vị một Đại tướng của đất nước, của nhân dân- vắt qua hai thế kỷ- là một huyền thoại.
Đọc ở huyền thoại đó, có thể thấy những thăng trầm, những dâu bể, mưa nắng, những ấm lạnh của số phận một con người, phản chiếu cả một thời cuộc, một thời đại lịch sử đầy bão giông của đất nước.
Từ lúc vận mệnh, chủ quyền, độc lập và tự do dân tộc bị đe dọa, đến những thời khắc cả dân tộc phải quyết liệt tự "lột xác"- với công cuộc Đổi mới lịch sử. Đọc ở đó, có thể thấy cả sự tài ba trong thao lược quân sự lẫn ý thức trách nhiệm và bổn phận một vị Tướng, không nề hà trước những gánh vác với giang sơn.
Đọc ở đó, có thể thấy một con người đã biết dấn thân vì nghĩa lớn, một bậc nam nhi đã sống trọn vẹn với "chí làm trai" như trong ca dao xưa, làm nên bản sắc văn hóa Việt đặc sắc, đầy chí khí và bản lĩnh: Làm trai cho đáng nên trai/ Xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài yên.
Đọc ở đó, có thể thấy tầm vóc lớn lao của một người Việt đương đại, khiến thế giới phương Tây nể trọng, kính trọng, phải dùng những "thước đo" của nhân loại:
Võ Nguyên Giáp là một trong 21 vị danh tướng của thế giới trong 25 thế kỷ qua, từ thời Alexandre Đại đế đến Hannibal rồi đến thời cận hiện đại với Kutuzov, Jukov..., những người đã có chiến công tạo nên bước ngoặt của nghệ thuật chiến tranh (Ducan Townson, cuốn Những vị tướng lừng danh)
Từ năm 1944-1975, cuộc đời của Võ Nguyên Giáp gắn liền với chiến đấu và chiến thắng, khiến ông trở thành một trong những thống soái lớn của mọi thời đại.
Với 30 năm làm Tổng Tư lệnh và gần 50 năm tham gia chính sự ở cấp cao nhất, ông tỏ ra là người có phẩm chất phi thường trong mọi lĩnh vực của chiến tranh. Khó có vị tướng nào có thể so sánh với ông trong việc kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính qui. Sự kết hợp đó xưa nay chưa từng có (Tướng Peter Mac Donald, nhà nghiên cứu khoa học lịch sử quân sự người Anh) (theo Wikipedia tiếng Việt)
Đó là những phẩm chất một con người- một vị tướng- một nhân vật lịch sử, hiếm có và cuối cùng của một thế hệ luôn toàn tâm toàn ý dấn thân, gánh vác cho sự nghiệp bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc, cho sự giàu mạnh và phát triển của đất nước, với hy vọng sánh vai với các cường quốc năm châu.
Chính vì thế, nỗi đau, nỗi thương xót, tiếc nuối huyền thoại Võ Nguyên Giáp, không chỉ là tiếc nuối một con người với tài năng lớn, phẩm cách tuyệt vời luôn biết đặt lợi ích dân tộc, lợi ích giang sơn lên trên hết, tiếc nuối một con người đã thành "biểu tượng" sống, và niềm tự hào của người dân Việt.
Nhất là những tháng năm này, nước Việt đầy day dứt, và đau xót vì hiện tượng khủng hoảng niềm tin, trước những quốc nạn tham nhũng, nhóm lợi ích, trước những sự băng hoại văn hóa, đạo đức, làm tổn thương sâu sắc những giá trị tinh thần và văn hóa Việt được xây đắp từ ngàn năm.

Người viết bài, đã nghẹn lòng, rưng rưng xúc động, khi nhìn thấy hình ảnh các bạn trẻ đến thắp nến, và tưởng niệm Đại tướng vào lúc 0 giờ đêm ngày 4/10, tại nhà riêng của Đại tướng, ngay sau khi thông tin Đại tướng vừa từ trần được loan truyền trên các trang mạng xã hội.
Hình ảnh những người Việt trẻ đó lặng lẽ và đau xót vĩnh biệt vị Tướng họ yêu quý, ngưỡng mộ, cho người lớn chúng ta cảm xúc gì không?
Không phải là những ngọn nến lung linh tưởng nhớ một huyền thoại, mà chính là huyền thoại đó luôn lung linh trong trái tim những người Việt trẻ, những trái tim, những tâm hồn non trẻ, sục sôi nhiệt huyết, đang rất cần những giá trị tinh thần cao đẹp, trong sáng, thực sự vì nước, vì dân hướng đạo cho họ sống, đi qua những tháng năm gian khổ này, để xây dựng một nước Việt không hổ thẹn với quá khứ lịch sử. Không hổ thẹn với các thế hệ tiền nhân, và ngay cả với cả vị Tướng huyền thoại vừa vĩnh biệt đời sống.
Hình ảnh cảm động đó, còn là một minh chứng sinh động, "nói" với nhân gian, rằng những giá trị trí tuệ, nhân cách cao đẹp vì lợi ích đất nước, luôn bất biến trong sự trân quý của những người Việt trẻ. Với họ, đó còn là "tay vịn" để họ có thể sống có ích, mà không thất vọng trước thực tại xã hội.
Bởi nếu nhìn vào đời sống vật chất của người Việt so với hơn 20 năm Đổi mới trước đây, nhất là các trung tâm đô thị lớn, các thành phố... , phải nói đó là một bước tiến đáng kể. Nhưng nếu nhìn vào đời sống tinh thần, tâm hồn, tình cảm, vào những thang bậc giá trị tinh thần xã hội, người Việt chúng ta "giàu có" hơn những gì? Nhất là khi nhìn về hành trình hội nhập với văn minh, văn hóa nhân loại còn xa ngái.
Sự hẫng hụt của xã hội, của người Việt chúng ta những ngày này, không phải chỉ là sự khuất bóng một nhân vật lịch sử của đất nước, mà còn là sự thiếu vắng của những giá trị tinh thần, văn hóa cao đẹp, đem lại niềm kiêu hãnh vốn có của người Việt, để nước Việt tiếp tục vượt qua và chiến thắng trong cuộc chiến chống "nội xâm", như đã từng chiến thắng các loại giặc ngoại xâm?
Ai sẽ trả lời cho người Việt, nếu không phải tự chúng ta? Tự mỗi người Việt, từ quan chức cho đến mỗi thường dân, phải tìm được câu trả lời, ngay bây giờ và trong những tháng năm sắp tới?
Đó mới chính là sự tiễn biệt xứng đáng với một huyền thoại vừa khuất bóng dương gian...
Theo Tuan VietNamNet